CÁC ĐẶC TRƯNG KHI IN VÀ THUỘC TÍNH CỦA CHÚNG

29/10/2021
Tài liệu

Các đặc trưng in:

Đối với chế bản, các đặc trưng in có thể được định nghĩa là “Các ảnh hưởng
được kết hợp của một số các đặc trưng cần phải được bù trừ khi tạo ra
các bản tách màu”.

Các thuộc tính của các đặc trưng in:

Trong quá trình chế bản, các đặc trưng in xác định sự cân chỉnh máy quét và thường được xác định theo các dữ liệu về mật độ tờ in và cân bằng xám. Đối với quá trình in, các đặc trưng in được định nghĩa là : “Tập hợp các đặc trưng có ảnh hưởng đến phục chế in và ảnh hưởng đến sự chính xác giữa tờ in thử và tờ in thật cũng như giữa các tờ in trong một lần in hay giữa nhiều lần tái bản”.

Có nhiều yếu tố biến đổi gây ra sự khác biệt giữa tờ in thử và tờ in thật, giữa các tờ in trong một lần in và giữa các lần in. Các yếu tố này có thể được phân thành các thuộc tính cơ bản như sau: 

•    Bề mặt tờ in
•    Màu mực cơ bản (tông màu, mật độ)
•    Sự truyền tông (gia tăng tầng thứ)
•    Màu mực sơ cấp (sự nhận mực, thứ tự  in chồng màu)
•    Cân bằng xám.

Mặc dù các thuộc tính này được liệt kê như những thuộc tính riêng lẻ nhưng chúng không thể tách rời nhau mà trong thực tế chúng có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Tuy nhiên chúng ta cần phải đo các thuộc tính này một cách riêng biệt để có thể xem xét ảnh hưởng của chúng đến sự biến đổi tổng thể. 

Bề mặt tờ in:

Bề mặt tờ in có ảnh hưởng quan trọng đến các đặc trưng in xét cả về yếu tố thị giác lẫn các thuộc tính đo được trên tờ in. Phần lớn các kỹ thuật viên ngành in đều trải qua các khó khăn khi cố gắng in cho giống bài in thử (đã được in trên giấy tráng phấn) với giấy in thật là giấy không tráng phấn. Các ảnh hưởng của bề mặt tờ in có thể được thấy rõ ràng khi đo mật độ của các loại giấy khác nhau. Chúng cũng cho thấy rõ khi phục chế hình màu hay thậm chí hình một màu có một sự khác biệt lớn về các đặc trưng khi in.

Những sự khác biệt này cho thấy những khó khăn khi phải truyền tầng thứ trên các loại giấy khác nhau. Dưới đây là khoảng mật độ tối đa có thể đạt được khi in trên các loại giấy khác nhau.

Loại giấy Khoảng mật độ
Giấy in báo

1.1

Giấy không tráng phấn 1.4
Giấy Couché matte (bề mặt không bóng) 1.6
Giấy Couché mặt bóng 1.9

Ngoài những sự khác biệt về mật độ còn có sự khác biệt về khoảng màu phục chế khi in trên các loại giấy khác nhau. Hình vẽ dưới đây cho thấy khoảng phục chế màu khi in trên loại giấy in báo nhỏ hơn nhiều so với khi in trên loại giấy trắng có tráng phấn, vì lý do này mà khoảng màu sắc in trên giấy in báo thường có độ bão hoà màu thấp hơn khi in trên các loại giấy khác. Mặc dù cũng có sự dịch chuyển về tông màu nhưng sự chuyển dịch này không thể xác định một cách chính xác từ biểu đồ này vì mực in sử dụng để in trên hai loại giấy này khác nhau.

Các ảnh hưởng của bề mặt tờ in đối với các tông màu mực có thể được quan sát một cách rõ ràng khi in cùng một loại mực lên nhiều loại giấy khác nhau. Sự so sánh như thế có thể không chính xác hoàn toàn vì sự sai biệt về tông màu mực bị ảnh hưởng chủ yếu bởi độ dày lớp mực được in lên các bề mặt tờ in đó. Trong thực tế, sự sai biệt màu sẽ ít hơn nếu độ dày lớp mực được điều chỉnh để đạt được giá trị độ sáng chung trên từng loại giấy. Độ sai biệt màu cho một khoảng mật độ tiêu biểu của các loại giấy được thể hiện trong bảng dưới đây.

Loại giấy Khoảng sai bệt màu tối đa giữa các loại giấy trong cùng một nhóm 
Khi chưa in Red Green Blue
Giấy không tráng phấn với bề mặt
không bóng
13.3 6.3 7.6 8.4
Giấy tráng phấn, bề mặt bóng 1.2 2.7 3.6 1.1
Phối trộn tất cả các loại giấy 13.3 20.6 26.5 16.1

 

Khoảng sai biệt màu chỉ ra trong bảng là khoảng sai biệt tối đa giữa các loại giấy trong cùng một nhóm giấy.

Ta có thể nhận thấy một điều thú vị ở đây là sự sai biệt màu giữa các loại giấy trong cùng nhóm giấy không tráng phấn khi in thấp hơn so với khi chưa in, các loại giấy trong nhóm giấy có tráng phấn thì ngược lại. Có một sự gia tăng khoảng sai biệt màu đáng kể khi tất cả các loại giấy được đưa ra so sánh, đây là kết quả của sự khác biệt về độ bóng, độ hấp thụ, độ nhẵn bề mặt và các đặc trưng quang học của các loại giấy. Màu sắc của giấy rõ ràng là có ảnh hưởng lên tông màu của mực in. Nhưng có một điều cần phải lưu ý là khi xem xét một quá trình phục chế màu, giấy in mặc nhiên được xem như một nền trắng tham chiếu và trong tiềm thức chúng ta luôn có sự điều chỉnh này. Màu sắc của giấy in còn có ảnh hưởng nhiều hơn khi in các nền màu lớn lên trên đó vì các nền màu này loại trừ bất kì khả năng bù trừ nào của hệ thống thị giác của chúng ta. Một thuộc tính nữa bị ảnh hưởng bề mặt của tờ in chính lá sự gia tăng tầng thứ. Chúng ta đã biết rằng sự gia tăng tầng thứ chính là hiện tượng các hạt tram trên tờ in lớn hên các hạt tram trên phim, hiện tượng này cũng bị ảnh hưởng một phần bởi sự tán xạ ánh sáng trên bề mặt tờ in, Có một sự khác biệt đáng kể giữa sự tán xạ ánh sáng trên bề mặt giấy tráng phấn và giấy không tráng phấn. Một lần nữa ta lại thấy việc so sánh giữa các loại giấy với nhau không hoàn toàn chính xác khi các thuộc tính khác như mật độ và độ dày lớp mực cũng thay đổi. Tuy nhiên, các số liệu đo đạc cho thấy có một sự khác biệt khoảng 3% trong sự gia tăng tầng thứ ở phần tông trung gian giữa các loại giấy tráng phấn cao cấp và các loại giấy không tráng phấn và sự gia tăng tầng thứ cao nhất nằm ở các loại giấy không tráng phấn.

Ngoài các ảnh hưởng của bề mặt tờ in, khoảng mật độ, sự gia tăng tầng thứ và khoảng màu phục chế, chúng ta cũng phải xem xét các ảnh hưởng thị giác như cấu trúc bề mặt tờ in và các đặc trưng quang học khác.

 

Tông màu sơ cấp

Tông của các màu mực in cơ bản khi được in lên một loại giấy cụ thể được xác dịnh bởi các tiêu chuẩn phù hợp, thí dụ như tiêu chuẩn BS 4666. Tuy nhiên cũng có sự biến đổi về tông màu giữa các bộ mực của các hãng sản xuất mực khác nhau. Sự khác biệt về tông màu giữa các bộ mực sẽ ảnh hưởng đến khoảng màu phục chế và do vậy cũng ảnh hưởng đến kết quả in khi in cùng một bộ phim nhưng bằng nhiều loại mực khác nhau. Lý do có sự khác biệt về tông màu chính là giá thành của các loại hạt màu. Vì quá trình in không hoàn hảo nên nó có thể làm tăng hay giảm khoảng màu phục chế tại một màu nào đó thí dụ như màu Red bằng cách thay đổi các tông màu như Cyan và Magienta nhưng lại làm giảm khoảng màu phục chế của các màu khác. Thậm chí nếu mực in và bề mặt tờ in giống nhau nhưng độ dày lớp mực khác nhau thì các tông màu cũng sẽ thay đổi. Hiệu ứng thị giác về sự biến đổi tông màu do độ dày lớp mực cũng giống như khi in trên các loại giấy khác nhau. Việc điều chỉnh giảm độ dày lớp mực khi in trên giấy tráng phấn hoặc giấy không tráng phấn sẽ làm giảm độ bão hoà màu và khoảng mật độ màu phục chế.

 

Tông màu in thứ hai và thứ ba

Các màu mực in thứ hai và thứ ba bị ảnh hưởng bởi tông màu mực in và độ dày lớp mực in trước đó. Chúng cũng bị ảnh hưởng bởi các đặc trưng về sự truyền mực. Trong thực tế, có nhiều tờ in khi so các màu mực in đầu tiên thì giống nhau nhưng khi in chồng thêm một màu nữa thì lại nhìn khác nhau, đặc biệt khác nhau ở độ bão hoà màu.
Công việc in nhiều màu bao gồm việc in chồng nhiều lớp mực lên nhau và điều quan trọng là lượng mực in chồng lên một màu đã được in trước đó cũng được chấp nhận như lượng mực in lên phần trắng của giấy (vùng chưa in). Khả năng in chồng một màu này lên một màu khác được gọi là thuộc tính truyền mực. Việc truyền mực kém có nghĩa là mực in được truyền lên trên một lớp mực khác ít hơn lượng mực cần thiết nên màu tổng hợp bị ngả sang màu của lớp mực in trước đó.

 

Truyền tông

Quá trình tram hoá hình ảnh tạo ra những sự biến đổi về độ bão hoà màu, các điểm tram có kích thước khác nhau khi được quan sát từ một khoảng cách thích hợp sẽ được hoà trộn bởi quá trình thị giác của chúng ta. Cường độ của màu mà chúng ta thấy được tại bất kì một phần nào trên thang đo kiểm tra tông màu phụ thuộc vào cả lượng mực được truyền lên giấy lẫn mật độ của phần tông nguyên cũng như kích thước của điểm tram được in. Vì các điểm tram có thể thay đổi kích thước từ phim sang bản in nên có khả năng một tông màu thay đổi không phụ thuộc vào sự thay đổi tông màu chung. Mặc dù kích thước điểm tram có thể bị thay đổi theo hướng nhỏ đi nhưng thông thường chúng thay đổi theo hướng lớn lên (sự gia tăng tầng thứ). Việc giảm độ dày lớp mực có thể cho phép đạt được một tông màu nào đó nhưng lại làm cho tông màu chung thay đổi nhiều.

Các đặc trưng in còn bị ảnh hưởng nhiều bởi các hiệu ứng thị giác của các điểm tram có kích thước khác nhau và sự khác biệt giữa tờ in thử và in thật. Trong tình huống các điểm tram lớn hơn mức cho phép do lỗi của quá trình chế bản, khi in ta không thể nào đạt được mật độ yêu cầu trên tất cả các tông cùng một lúc.

Mặc dù hiện nay các nhà in đã biết nhiều về sự truyền tông màu nhưng phần lớn các sai hỏng vẫn liên quan đến các vấn đề về kiểm soát sự truyền tông hay phục chế tông không chính xác đặc biệt là sự sai biệt tông màu giữa các tờ in thử và in thật (trên cùng một loại giấy hay khác loại giấy), giữa các tờ in trong cùng một lần in và giữa các lần in.

 

Cân bằng xám

Cân bằng xám không phải là yếu tố tự biến đổi mà bị biến đổi do nhiều yếu tố khác. Nếu các lớp mực được in chồng lên đúng như yêu cầu thì ở phần xám của hình ảnh sẽ có màu trung tính, nếu các lớp mực truyền lên nhau không chính xác thì phần màu xám của hình ảnh sẽ bị ngả sang một tông màu nào đó. Như ta đã phân tích ở trên, sự truyền mực chính xác còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự gia tăng tầng thứ...nên cân bằng xám cũng phụ thuộc vào toàn bộ các yếu tố đã kể trên. Cân bằng xám dễ bị phát hiện bằng mắt thường khi in những ảnh có mảng tông xám lớn nhưng lại ít bị phát hiện khi in những hình có nhiều tông màu. Cân bằng xám thực chất cũng là cân bằng màu vì việc truyền tông màu không chính xác được phát hiện nhanh nhất tại những vùng tông xám.

 

Xác định quy cách của các đặc trưng in

Ảnh hưởng của các đặc trưng lên việc phục chế màu cần phải được mô tả hay xác lập thành qui cách. Có hai cách xác lập qui cách. Một qui cách có thể được xác định bởi các thang kiểm tra in nhằm thiết lập các đặc trưng in cần thiết cho một bài in hay một tiêu chuẩn in trong một điều kiện cụ thể. Một qui cách in như thế có thể được thiết lập cho một máy in cụ thể hay một nhóm các máy in. Một phương pháp khác để xác lập qui cách là tuân thủ một số các tiêu chuẩn in đã được công bố. 
Cách đầu tiên nên được thực hiện khi công việc in có những điểm không bình thường thí dụ như bề mặt giấy in đặc biệt hay độ phân giải tram cao. Đây cũng chính là phương pháp tốt nhất khi các phim tách màu được thực hiện dưới sự kiểm soát của nhà in vì nó cho phép thiết lập các điều kiện tối ưu cho quá trình in của nhà máy ngay tại khâu chế bản. Tuy nhiên khi các phim tách màu được khách hàng cung cấp cho nhà in và các bộ phim này không tuân thủ các qui cách mà nhà in đang sử dụng thì một qui cách tiêu chuẩn sẽ được dùng để thay thế.

 

Các quy cách in tiêu chuẩn

Để có thể thoả hiệp với nhiều qui cách in khác nhau người ta đã đưa ra các tiêu chuẩn chung và chúng được coi như những tiêu chuẩn công nghiệp thông thường. Các qui cách đang dùng cho báo và tạp chí là tiêu chuẩn của hiệp hội các nhà in định kỳ (FIPP) và qui cách cho in báo bằng phương pháp in offset của Anh Quốc (UKONS). Các qui cách tương tự cũng được áp dụng ở Hoa Kỳ, đó là qui cách cho in offset cuộn (SWOP) và qui cách cho in quảng cáo không sấy (SNAP). Ngoài ra còn nhiều qui cách  nữa mà các nhà in phải lưu ý tìm hiểu để sử dụng cho phù hợp. 
Sự chuyển dịch tầng thứ trong các quá trình phục chế là những nguyên nhân cơ bản gây ra sự chênh lệch các giá trị mật độ giữa bài mẫu và tờ in cũng như giữa các giai đoạn của quá trình phục chế. Bên cạnh mực in và màu của giấy in, các thông số quan trọng nhất là độ dày lớp mực, giá trị tầng thứ, cân bằng màu, sự nhận mực và thứ tự chồng màu. 

 

Độ dày lớp mực

Cảm giác về màu của một hình ảnh in phụ thuộc vào lớp mực in ở một mức độ nhất định. Vì các lý do kỹ thuật, độ dày lớp mực tối đa trong kỹ thuật in offset vào khoảng 3,5 mm. 

Đối với giấy tráng phấn và các màu mực theo tiêu chuẩn DIN 16 539, các vị vị trí màu chính xác có thể đạt được với độ dày lớp mực nằm giữa khoảng 0,7 và 1,1 mm. 
Tuy nhiên, nếu sử dụng giấy và mực in không thích hợp ta không thể phục chế được các màu nằm ở các góc của biểu đồ màu CIE (các màu có độ bão hoà màu cao nhất). Khoảng màu có thể phục chế được cũng giảm nếu độ bão hoà màu không đủ. Trong minh hoạ mô tả ở trang bên, vùng màu trắng cho thấy khoảng màu phục chế bị thu hẹp lại khi in bằng các loại mực không đạt chất lượng. 
Xét về khía cạnh vật lý, ảnh hưởng của độ dày lớp mực lên các đặc tính quang học có thể được giải thích như sau: Mực in không che phủ giấy mà chúng trong suốt. Ánh sáng xuyên qua mực in. Trong quá trình đi qua mực in, ánh sáng sẽ đụng phải các hạt màu, các hạt màu này sẽ hấp thụ nhiều hay ít các bước sóng nào đó của ánh sáng. Sự tập trung của các hạt màu và độ dày lớp mực càng cao thì càng có nhiều hạt màu đụng phải ánh sáng và ánh sáng sẽ được hấp thụ nhiều hơn. 

 

 

Cuối cùng, các tia sáng tới được bề mặt giấy màu trắng và được phản xạ. Trong quá trình phản xạ, ánh sáng lại phải đi qua độ dày lớp mực một lần nữa rồi mới tới mắt người quan sát. 
Một lớp mực in dày hấp thụ nhiều và phản xạ ít ánh sáng hơn so với lớp mực in mỏng, vì lẽ đó người quan sát cảm nhận màu tối hơn và có độ bão hoà cao hơn. Vì vậy, phần ánh sáng đi đến mắt người được coi là cơ sở để đánh giá màu. 

 

Sự chuyển dịch tầng thứ trong quá trình phục chế

Tiếp theo mực in, các giá trị tông tram là thông số quan trọng nhất để đánh giá tông màu. 
Ứng với mỗi diện tích (độ lớn) của điểm tram ta sẽ có một giá trị tầng thứ, người ta thường gọi là giá trị tông tram F(%). Nó cho biết tỉ lệ phần trăm về diện tích của các điểm tram và phần giấy trắng. Trong trường hợp giấy trắng F=0%, khi in phủ nền F=100%. Nếu F=40% thì có nghĩa là các điểm tram che 40% diện tích và 60% diện tích còn lại là phần trắng của giấy. Các tông màu càng sáng thì giá trị tông tram càng nhỏ.

 

Sự dịch chuyển tầng thứ

Khi một hạt tram được truyền từ phim sang bản in rồi từ bản in qua tấm cao su, rồi cuối cùng truyền lên giấy, hàng loạt các yếu tố có thể làm thay đổi kích thước hình học của nó. 
Sự thay đổi các giá trị tầng thứ gây ra bởi các quá trình trên có thể được bù trừ từ công đoạn chế bản. Một đường cong mô tả các đặc tính truyền tầng thứ có thể được vẽ bằng cách đo các thang kiểm tra in và so sánh chúng với bài mẫu. Nếu trong toàn bộ quá trình in (từ khi quét hình cho đến khi in hoàn chỉnh) nếu đạt được các thông số so với tiêu chuẩn thì có thể mong đợi sản phẩm in ra giống bài mẫu. 
Tuy nhiên, sự dịch chuyển tầng thứ là vấn đề khó của ngành in không thể thấy trước được. Chúng cần được lưu ý, đặc biệt trong suốt quá trình in. Các yếu tố quan trọng nhất là: 

Đường đi của điểm tram Các yếu tố ảnh hưởng Hình dạng điểm tram

Phim

Bình Bản

Ép phim

Hiện phim

Gở cạnh phim, băng keo, keo dán

Hóa chất, thời gian hiện.

Hai điểm tram trên phim
(Phóng đại khoảng 150 lần)

Bản in

Phơi bản

Làm ẩm

Chà mực

In

Vật liệu in, độ mài mòn theo số lượng in

Thời gian phơi, hút chân không, chiếu sáng ngang hông.

Lượng nước ẩm, độ pH, sức căng bề mặt, độ cứng của nước, nhiệt độ.

Độ dày lớp mực, độ quánh, nhiệt độ.

Quá trình lăn ép.

Điểm tram trên bản sau khi chà mực

Điểm tram trên bản sau khi chà mực

Tấm cao su

Cao su/ vật liệu in

Vật liệu, tình trạng bề mặt

Quá trình ép lăn

Hạt tram trên tấm cao su

Vật liệu in

Truyền giấy

Ra giấy

Bề mặt, chất lượng giấy

Sự ăn khớp khi truyền giấy

Quệt lem

Hình phóng đại cho thấy rõ kết quả tốt
nhất của một điểm tram

 

 

SỰ TĂNG/GIẢM CÁC GIÁ TRỊ TÔNG TRAM

Hạt tram to ra

Hiện tượng hạt tram to ra chính là sự gia tăng diện tích điểm tram trong quá trình in khi so sánh với điểm tram trên phim. Sự gia tăng diện tích này một phần là do quá trình in, vật liệu in và máy in và không bị ảnh hưởng bởi người thợ in. Ở một góc độ nào đó người thợ in cũng góp phần làm tăng tầng thứ đặc biệt là khi họ điều chỉnh việc cấp mực.
Phần trắng bị bít Hiện tượng các phần không in (để trắng) bị nhỏ đi cho đến khi bị bít hẳn. Đôi khi sự kéo dịch và đúp nét cũng gây bít.

Hạt tram bị nhỏ đi

Là hiện tượng các hạt tram trên tờ in nhỏ hơn so với hạt tram trên phim.

 

SỰ BIẾN DẠNG ĐIỂM TRAM

Hạt tram to ra

Kéo dịch là hiện tượng hình dạng một điểm tram thay đổi trong quá trình in do chuyển động tương đối giữa bản in và tấm cao su, chính vì lý do này mà một điểm tram tròn có thể biến dạng thành hình bầu dục. Kéo dịch phía góc phải của hướng in được gọi là kéo dịch bên. Kéo dịch chéo chỉ xảy ra khi cả hai dạng kéo dịch trên xảy ra cùng một lúc.

Hạt tram bị đúp nét

Trong in offset, đúp nét có nghĩa là một điểm bóng không mong muốn có hình dạng giống như điểm tram xuất hiện kế bên điểm tram.

Hạt tram bị quệt lem

Là sự biến dạng của điểm tram gây ra bởi các tác động cơ học sau in. Thuật ngữ (quệt lem) cũng được sử dụng trong trường hợp mực in dính vào mặt lưng của tờ in sau nó.

 

 

Các phần tử tín hiệu in kèm với tài liệu như dải SLUR là một công cụ có giá trị để kiểm tra một cách nhanh chóng những sự thay đổi giá trị tầng thứ. Các phần tử này phóng đại những lỗi xảy ra trong quá trình in. 
Các lỗi như hạt tram bị to ra, bị thu nhỏ, kéo dịch hay đúp nét ảnh hưởng đến các phần tử tram hạt nhuyễn nhiều hơn là các phần tử tram hạt lớn. Nguyên nhân xảy ra hiện tượng này có thể được lý giải như sau: các điểm tram nhỏ (tram độ phân giải cao) tăng hoặc giảm diện tích bằng với sự tăng giảm xảy ra đối với các hạt tram lớn (tram có độ phân giải thấp) do vậy khi in tram có độ phân giải cao ta sẽ có nhiều hạt tram hơn nên dễ bị tăng hoặc giảm nhiều hơn so với tram thô. Đó chính là lý do tại sao trong suốt quá trình in có nhiều mực in tụ quanh các hạt tram mịn hơn và hậu quả là hình ảnh in ở độ phân giải cao sẽ tối hơn. Hiện tượng này là cơ sở để thiết lập nên các phần tử tín hiệu và đo đạc. 
Cấu trúc và chức năng của dải SLUR sẽ giải thích ngắn gọn cho hiện tượng trên. Trong giải SLUR các phần tử tram thô (phần viền quanh) được phối hợp với các phần tử tram mịn (các con số). 
Trong dải thang kiểm tra SLUR có các giá trị tông tram bằng nhau được tạo ra từ tram thô. Các số từ 0 tới 9 được tạo ra từ tram mịn có các giá trị tông thu nhỏ dần. Trong quá trình in sản lượng, trên tờ in chuẩn sẽ có số 3 trên thang kiểm tra và khi nào vùng tram thô xung quanh nó có cùng giá trị tông thì có thể số 3 không còn đọc được nữa. Tuy nhiên, nếu sự gia tăng tầng thứ xảy ra trong suốt quá trình in thì con số cao hơn kế tiếp với tầng thứ thấp hơn sẽ có cùng tông với vùng tram thô bao quanh nó. Sự gia tăng tầng thứ càng cao thì sự cân bằng tông giữa số và vùng tram thô bao quanh sẽ dịch chuyển về con số cao hơn. 
Đối với hiện tượng hạt tram bị thu nhỏ thì mọi việc diễn ra ngược lại. 

 

Trong trường hợp này các con số 2, 1 hay thậm chí 0 có thể không đọc được. Các con số chỉ đơn thuần cho biết hiện tượng gia tăng tầng thứ hoặc hiện tượng thu nhỏ hạt tram có thể xảy ra hay không. Các nguyên nhân gây ra hai hiện tượng này phải được xem xét bằng kính phóng đại trên tờ in hoặc trên bản in. Phần chữ SLUR phía bên phải của các con số cho biết tờ in dạng chuẩn, hạt tram to ra, kéo dịch hay đúp nét. Khi in, nếu hiện tượng gia tăng tầng thứ xảy ra thì chữ SLUR sẽ không rõ ràng hơn so với tờ in tốt, mặc dù toàn bộ vùng chứa chữ SLUR trông tối hơn. 
Tuy nhiên, các điểm tram trên thang kiểm tra ít thích hợp để nhận biết sự kéo dịch hay đúp nét. Ở phần tram ta có thể nhận thấy sự to ra nhưng sự biến dạng điển hình kèm theo hướng kéo dịch có thể thấy rõ hơn phần chữ SLUR. Thí dụ trong trường hợp kéo dịch theo hướng in, các đường kẻ nằm ngang tạo nên chữ SLUR (song song với cạnh nhíp) sẽ rộng ra làm ta thấy rõ chữ. Ngược lại, trong trường hợp kéo dịch bên, phần bao quanh chữ SLUR có các đường kẻ dọc sẽ trở nên tối hơn. 
Hình minh hoạ dưới đây cho thấy ảnh hưởng của sự thay đổi giá trị diện tích điểm tram đến ảnh in, đây là một ví dụ về sự gia tăng tầng thứ. Thậm chí nếu các điểm tram của chỉ một màu cơ bản lớn hơn mức yêu cầu thì cũng dẫn đến sự thay đổi giá trị tông màu. 

Dĩ nhiên, điều này cũng quan trọng đối với việc truyền tầng thứ chính xác trên máy in. Quá trình truyền tầng thứ trong in offset (từ bản sang cao su và từ cao su sang tờ in), thường làm cho các điểm tram lớn hơn. Hiện tượng này được gọi là sự gia tăng tầng thứ. 
Các dải thang kiểm tra giúp kiểm soát được chất lượng tờ in, nhưng chúng không cung cấp các thông tin về các giá trị sai lệch cụ thể và các lỗi. Để có thể biết được chất lượng của các giá trị tông cần phải dùng đến các phương pháp đo. 

 

Sự gia tăng tầng thứ

Sự gia tăng tầng thứ là sự khác biệt giữa các giá trị tông tram trên phim và trên tờ in. Đây là kết quả của việc biến dạng hình học của điểm tram lẫn hiệu ứng quang học (hiện tượng tán quang*).
Cũng giống như giá trị tông tram F, giá trị gia tăng tầng thứ Z thường được tính bằng phần trăm (công thức tính sự gia tăng tầng thứ Z được đề cập ở chương 3.5.1). 
Sự gia tăng tầng thứ là sự khác biệt giữa giá trị tông tram khi in FD và giá trị tông tram trên phim FF
Vì sự gia tăng tầng thứ khác nhau tuỳ thuộc vào các khoảng giá trị tông, các số liệu về sự gia tăng tầng thứ cũng nên nói rõ về giá trị tầng thứ tương ứng trên phim. Ví dụ: độ gia tăng tầng thứ là 15% đối với FF=40%, hoặc gọn hơn là Z40=15%. 
Các thiết bị đo hiện đại cho biết độ gia tăng tầng thứ một cách trực tiếp. 
Chú ý: Độ gia tăng tầng thứ Z(%) là hiệu số giữa giá trị tông tram khi in FD và giá trị tông tram trên phim FF. Do vậy giá trị này không liên quan đến giá trị tông tram trên phim FF

* Hiện tượng tán quang là hiện tượng ánh sáng bị giữ lại trên tờ in, không phản xạ lại mắt hay máy đo.

 

Đường đặc trưng in

Sự biến đổi giá trị tông tram khi in FD so với giá trị tông tram trên phim FF có thể được mô tả một cách rõ ràng để điều chỉnh quá trình chế bản qua đường đặc trưng in. 
Để xác định đường đặc trưng in, người ta sử dụng thang tram có ít nhất là 3 nấc tầng thứ và một ô tông nguyên, có nhiều thang đo có các ô chuyển đổi giá trị tông từ 0% đến 100% với các giá trị tông cách nhau một khoảng 5%. Với máy đo mật độ ta có thể đo mật độ mực ở tông nguyên và các bậc trong thang tram để từ đó xác định tầng thứ tram. Đưa toạ độ các điểm đo được vào đồ thị đã vẽ sẵn các giá trị tầng thứ trên phim tương ứng, ta sẽ có đường đặc trưng truyền tầng thứ từ phim sang tờ in khi quá trình phơi bản được tiêu chuẩn hóa. 

Đường đặc trưng này chỉ có giá trị đối với sự phối hợp mực in, giấy, áp lực in, cao su và bản in theo điều kiện kiểm tra vì chúng là những yếu tố từ đó mà ta xác định đường đặc trưng. Nếu người ta kiểm tra trên một loại máy in khác với mực in và giấy khác thì môi trường hợp sẽ cho ra một đường đặc trưng khác. 
Trên đồ thị đường đặc trưng I nghiêng một góc 450 biểu diễn đường đặc trưng in lý tưởng thông thường không đạt được. Trong trường hợp này, các giá trị tầng thứ trên phim và trên tờ in hoàn toàn trùng với nhau. 
Đường đặc trưng II thể hiện tầng thứ tram đo được trên tờ in chỉ rõ sự thay đổi tầng thứ giữa phim và tờ in. Thí dụ giá trị tông tram trên phim là 40% nhưng trên đường đặc trưng in thứ hai chỉ ra giá trị tông trên tờ in là 55%. Từ đó ta có độ tăng thêm tầng thứ Z(%)=55%-40%=15%. Khi xác định sự gia tăng tầng thứ trong quá trình in, phần tông trung gian nói lên nhiều ý nghĩa nhất. Đường đặc trưng in chỉ ra rằng tại phần tông này các giá trị tầng thứ dịch chuyển nhiều nhất. Qua đường đặc trưng in thứ hai, ta có thể điều chỉnh các giá trị tầng thứ tram trên phim để cân bằng và bù trừ cho độ gia tăng tầng thứ khi in.

 

 

Độ tương phản K(%)

Độ tương phản in tương đối K(%) dùng để kiểm tra ở tông ¾. 
Một tờ in cần có độ tương phản cao hết mức mà nó có thể. Điều đó có nghĩa là các tông nguyên (in nền) cần có mật độ mực cao, nhưng tông tram vẫn còn hở không bị bít lại (tầng thứ tối ưu). Khi tăng lượng mực, mật độ mực trong các điểm tram tăng lên và như vậy độ tương phản cũng tăng lên. Tuy nhiên, việc tăng lượng mực được cấp chỉ có ý nghĩa đến một giới hạn nhất định, vì khi độ dày của lớp mực tăng lên vuợt quá giới hạn đó, điểm tram to ra và phần trắng nền giấy ở tông ¾ bị bít lại. Như vậy, phần trắng trên giấy bị giảm bớt dẫn đến độ tương phản bị giảm đi. 
Nếu ta không có sẵn thiết bị đo hiển thị trực tiếp độ tương phản thì độ tương phản tương đối khi in có thể tính toán hay xác định trên cơ sở thang kiểm tra FOGRA PMS. 
Điểm tương phản tương đối được sử dụng để kiểm tra chất lượng điểm tram ở tông ¾. Khi in sản lượng, mặc dù mật độ màu mực ở tông nguyên không thay đổi, nhưng khi trị số độ tương phản K bị giảm đi thì đó là lúc cần lau rửa tấm cao su. 

 

 

Nếu mật độ mực ở tông nguyên đạt yêu cầu, các giá trị độ tương phản có thể được sử dụng để đánh giá các yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình in như: 

•    Sự lăn ép in và áp lực in.
•    Các tấm cao su và tờ lót.
•    Sự làm ẩm bản.
•    Mực in và phụ gia.

Không giống như sự gia tăng tầng thứ, giá trị độ tương phản phụ thuộc một phần lớn vào sự gia tăng mật độ ở tông nền, nên nó không được coi là một biến số cho việc chuẩn hoá. Đó là lý do tại sao cho đến nay tầm quan trọng của nó ngày càng giảm đi đáng kể. 

 

Cân bằng màu

Như đã giải thích ở phần trên, các tông màu được phục chế trong in bốn màu bằng sự phối trộn các thành phần khác nhau của mực Cyan,  Magenta, Yellow và Black. Nếu thành phần phối hợp giữa chúng thay đổi chúng sẽ cho ra màu khác. Để tránh điều này thành phần các màu cấu tạo nên tông màu mong muốn phải được cân bằng chính xác và ổn định. 
Nếu chỉ có màu Black thay đổi, tông màu trở nên sáng hoặc tối hơn, chúng ta không xem hiện tượng này như tông màu bị rối loạn. Tình trạng tương tự cũng xảy ra khi thành phần tất cả các màu hữu sắc thay đổi một cách tương đối đều nhau và cùng hướng. 
Tuy nhiên, chúng ta chỉ can thiệp khi tông màu thay đổi. Sự thay đổi tông như thế chỉ xảy ra khi các màu phối trộn thay đổi không đều nhau hoặc tệ hơn nếu chúng thay đổi theo hướng ngược nhau. 
Sự thay đổi cân bằng màu có thể nhận ra rất rõ ràng trên các vùng kiểm tra cân bằng xám. Vì lẽ đó cân bằng màu thường được gọi là cân bằng xám. Sự gia tăng các biến số không thể tránh khỏi của mỗi loại mực trong quá trình in chủ yếu phụ thuộc vào nguyên lý cấu tạo ảnh được chọn trong quá trình chế bản. 
Tiếp theo đây, các dạng thiết lập ảnh quan trọng nhất sẽ được diễn giải. Các biểu đồ giản lược cho thấy các loại mực lý tưởng không tồn tại trong thực tế. Thêm vào đó có những thay đổi về màu do việc nhận mực trong quá trình in ướt chồng ướt. Đây là lý do tại sao trong thực tế các giá trị tầng thứ thay đổi so với giá trị lý thuyết. Để đạt được các tông màu đều nhau, các ô kiểm tra in chồng màu phải được chỉnh sửa tương ứng. 

 

Hỗn hợp các sắc màu

Việc phối trộn màu bao gồm các màu sơ cấp của tổng hợp trừ Cyan (C), Magenta (M), Yellow (Y) và Black (K) thông thường được sử dụng để nhấn thêm chiều sâu của hình ảnh và để cải thiện các đường viền. Các tông màu tối được phục chế bằng cách phối trộn ba màu sơ cấp. 
Lấy ví dụ, màu mực in Cyan trở nên tối hơn nếu các thành phần bằng nhau của Yellow và Magenta được thêm vào và lúc đó thành phần của chúng phải được duy trì thấp hơn màu Cyan. Tỷ lệ màu Magenta và Yellow nếu được phối trộn với màu Cyan cùng tỉ lệ nó sẽ tạo ra màu đen và vì thế nó làm tối phần còn lại của màu Cyan. 
Điều này được minh hoạ bằng một ví dụ: 

 

 

Màu nâu được đưa ra trong hình minh hoạ được thiết lập theo cấu trúc màu 70% Cyan + 80% Magenta và 90% Yellow. Lượng màu phủ lên bề mặt vật liệu lên đến 240%. Màu Black không được sử dụng. Tuy nhiên do các màu được phối trộn với tỉ lệ cao nên cân bằng màu rất khó được duy trì trong suốt quá trình in. 

Thêm vào đó, với một bề mặt được phủ mực sẽ gia tăng. Cấu trúc các màu của màu nâu được chỉ ra ở hình minh hoạ kế bên bao gồm hai màu hữu sắc và một thành phần màu vô sắc (màu đen). Thành phần màu vô sắc được phối trộn bởi 70% Cyan, 70% Magenta và 70% cho ra màu xám (vô sắc). 10% Magenta và 20% Yellow còn lại là phần màu hữu sắc. 

 

 

Hỗn hợp các màu hữu sắc và thay thế các màu bằng màu đen

Kỹ thuật thay thế các màu vô sắc bằng màu đen (UCR Under Color Removal) là một sự biến đổi thành phần màu hữu sắc với một thành phần màu vô sắc được thay bằng màu đen. 
Giả sử rằng 30% các màu được loại bỏ từ màu nâu của ví dụ trên. 


Phần màu vô sắc bao gồm Cyan, Magenta và Yellow được loại bỏ đi 30% và thay thế bởi phần màu Black 30% tương ứng. Kết quả là bề mặt phủ mực không còn là 240% nữa mà chỉ còn 180% với tông màu không đổi. 

Đây là một sự hỗ trợ rất lớn cho thợ in vì nguy cơ thấm mực qua giấy được giảm thiểu và sự cân bằng màu có thể được duy trì dễ dàng hơn. 

 

 

Hỗn hợp màu vô sắc

Ngược lại với sự phối trộn các màu,  trong việc phối trộn màu vô sắc tất cả các thành phần màu vô sắc được thay thế bởi màu Black. Các tông màu vì thế không còn bị làm tối bằng các màu bổ sung mà được làm tối bằng màu Black. Cấu trúc vô sắc ở ví dụ dưới đây chỉ gồm có màu đỏ, vàng và đen. Nói chung bề mặt giấy được phủ một lượng mực không quá 100%. Kỹ thuật này cho phép các thành phần màu Cyan, Magenta và Yellow được giảm thiểu một cách đáng kể trong tất cả các hình ảnh và tông màu. Tiến trình in như thế trở nên đáng tin cậy hơn và việc nhận mực được cải thiện đáng kể. 

 

 

Hỗn hợp vô sắc với sự bổ sung các màu hữu sắc

Việc thêm các màu hữu sắc vào là một sự biến đổi thành phần màu vô sắc. Nếu mật độ của mực in màu đen trung tính không đủ thì các màu Cyan, Magenta và Yellow được thêm vào cấu trúc màu vô sắc một lần nữa để cải thiện chiều sâu của hình 0% ảnh trung tính (theo ví dụ ở đây là 25%).
Kiểu phối trộn này được sử dụng rộng rãi ngày nay, nó đã được cải thiện để trở thành một phương pháp có giá trị trong thực tế và cho chất lượng in ảnh tốt. 

 

 

 

In 5-6-7 màu

Kiểu in 4 màu hiện đại cho phép đạt được các tiêu chuẩn chất lượng cao. Tuy nhiên, trong một số bài mẫu ta cần một sự phối trộn nhiều màu hơn để đạt được yêu cầu chất lượng cao nhất. 
Khoảng màu phục chế có thể được nới rộng bằng cách sử dụng các màu đặc biệt (bên cạnh 4 màu sơ cấp của tổng hợp trừ). Thí dụ nếu màu đỏ cờ được sử dụng bổ sung cho 4 màu cơ bản thì khoảng màu đỏ cờ được phục chế có thể được mở rộng. Nếu cần thiết một vài màu đặc biệt cũng được in bổ sung thêm. 
Hình minh hoạ dưới đây chỉ ra các giá trị màu đo được từ việc in 7 màu được định vị trong biểu đồ màu CIE. 

 

Hình lục giác nằm trong phạm vi đường biên của biểu đồ màu được giới hạn bởi viền đen cho thấy khoảng màu phục chế từ các màu in cơ bản Cyan, Magenta, Yellow (các giá trị được đo). Hình 12 cạnh bao quanh nó cho thấy các khoảng màu có thể được nới rộng như thế nào khi in thêm các màu Red, Green và Blue. 

 

Sự nhận mực và thứ tự màu in

Sự nhận mực

Một biến số khác ảnh hưởng đến việc phục chế tông màu là tình trạng nhận mực. Nó chỉ ra rằng một lớp mực được chấp nhận như thế nào khi in lên một lớp mực khác. Có sự khác biệt khi in một màu lên giấy trắng và lên một màu đã in, khác biệt giữa kiểu in ướt chồng ướt và ướt chồng khô. 
Thuật ngữ in "ướt chồng khô" được dùng khi in một lớp mực được in trực tiếp lên bề mặt vật liệu hoặc một lớp mực khác đã khô. Ngược lại nếu mực in được in chồng lên một lớp mực được in trước đó và còn ướt thì ta dùng thuật ngữ "ướt chồng ướt". Đối với máy in nhiều màu thuật ngữ "ướt chồng ướt" thường được sử dụng. 
Nếu mực phủ đều và tông màu nằm đúng vị trí (toạ độ) ta gọi đó là tình trạng nhận mực tốt. 
Mặc khác, nếu tông màu mong muốn không đạt được thì tình trạng nhận mực đã bị sai (xáo trộn). 
Điều này cũng xảy ra đối với tất cả các màu mực pha khác. Hậu quả là khoảng phục chế màu bị thu nhỏ và có những sắc màu không thể tái tạo được. 
Nếu độ dày lớp mực in đúng thì vị trí (toạ độ) các màu Cyan, Magenta và Yellow được đặt đúng, nếu không thì toạ độ các màu Red, Green, Blue không thể đạt được do lỗi trong việc in chồng màu trong quá trình in. 

 

 

Biểu đồ màu CIE trên cho thấy ảnh hưởng của sự nhận mực kém hay thứ tự chồng màu không đúng ảnh hưởng đến chất lượng tờ in. Vùng trắng cho thấy khoảng tông phục chế bị thu hẹp lại do lỗi của sự nhận mực. 

 

Thứ tự màu in

Hình minh hoạ dưới đây cho thấy các kết quả của ba lần in chồng màu khác nhau của màu Cyan và Magenta do việc thay đổi thứ tự chồng màu giữa chúng. 

 

 

Ở ví dụ đầu một lớp mực màu Magenta được in trên máy in một màu là màu in đầu tiên. Sau đó lớp mực in màu Cyan được in chồng lên sau khi lớp mực thứ nhất đã khô (kiểu in ướt chồng khô). Độ dày lớp mực của hai màu đều lý tưởng, sự truyền mực tốt và toạ độ màu mong muốn đạt được yêu cầu. 
Ví dụ thứ hai cho thấy việc in chồng màu trên máy in nhiều màu. Đầu tiên một lớp mực Magenta được in trên giấy khô (ướt chồng khô). Sau đó lớp mực in cyan được in lên trên lớp mực Magenta vẫn còn ướt (kiểu in ướt chồng ướt). Ngược lại với lớp mực in Magenta được chấp nhận tốt bởi giấy in, sự nhận lớp mực cyan không đạt (do việc đổi thứ tự in màu trong quá trình in chồng màu). Kết quả, ta sẽ có một màu đỏ cờ ngả xanh. Trong thí dụ thứ ba, kiểu in ướt chồng ướt cũng được sử dụng nhưng thay đổi thứ tự in chồng màu (in chồng Cyan lên Magenta). Kết quả, ta có màu xanh ngả đỏ. 

Khi in chồng 4 màu, thứ tự màu Cyan - Magenta - Yellow - Black thông thường được chấp nhận là tiêu chuẩn. Thứ tự in chồng màu này cũng là cơ sở để điều chỉnh độ sệch của mực in trong quá trình sản xuất mực. 
Để giảm thiểu các lỗi do sự nhận mực gây ra, trong một số trường hợp đặc biệt, bản in nên được kiểm tra kỹ lưỡng trước khi gắn lên máy. Lấy ví dụ, đối với các vùng màu tông nguyên kết quả in sẽ tốt hơn khi in các màu nhạt trước và màu đậm sau. 
Đặc biệt, điều này được áp dụng khi in chồng các nền tram với nền tông nguyên. Đầu tiên nền tram nên được in trước lên giấy trắng rồi sau đó mới in nền đậm hơn lên trên nó. 

Chia sẻ

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

KIỂM ĐỊNH TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG BAO BÌ GIẤY

Trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất in thương mại sang in bao bì giấy, các nhà in thường bỡ ngỡ với các yêu cầu không chỉ đơn thuần là chất lượng in nữa và bây giờ nó là chất lượng của bao bì. Vậy chất lượng bao bì giấy là gì? Làm sao kiểm định và quan trọng nhất là các nhà in phải thực hiện việc này ra sao?

ĐO VÀ KIỂM TRA ĐẶC TRƯNG IN

Các loại thang kiểm tra Việc đo các đặc tính của các đặc trưng in không những quan trọng trong việc cung cấp các quy cách trong các giai đoạn sản xuất in mà còn giúp kiểm soát kết quả in thật đúng như tờ in thử. Các thông số kiểm tra được xác định thông qua các phần tử kiểm tra được gắn kèm hình ảnh in.

LỰA CHỌN MỰC IN PHÙ HỢP

Cách lựa chọn mực in phù hợp với vật liệu: Yêu cầu về mục đích sử dụng. Công nghệ sử dụng ở in và sau in. Các chuẩn mực của các hệ thống kiểm tra. (ngành thực phẩm, mỹ phẩm...)

TỔNG QUAN VỀ GIẤY VÀ MÀNG BAO BÌ

Giấy in: Ưu điểm: Thỏa mãn rất nhiều tính chất công nghệ, tính chất tiêu dùng, tính kinh tế,... Mỏng, nhẹ nhưng bền, bề mặt lại tương đối phẳng và láng. Cấu trúc xốp của giấy làm cho nó có khả năng chịu được áp lực đồng thời mực in rất dễ bám lên. Độ trắng của giấy đảm bảo cho chất lượng tái tạo hình ảnh. Khả năng tái sinh tốt.